KHO TRI THỨC KHO TRI THỨC

Sử dụng công nghệ trục tích hợp ESB trong việc kiểm soát thông tin của ngân hàng
Ngày đăng 28/03/2017 | 17:24

Công nghệ trục tích hợp ESB (Enterprise Service Bus) là một cách nhìn mới về việc tích hợp các ứng dụng, sự phối hợp các tài nguyên và kiểm soát, xử lý thông tin giữa các hệ thống trong doanh nghiệp nói chung và ngân hàng nói riêng. Đây là xu hướng công nghệ ngân hàng của thế giới và một nền tảng công nghệ hoàn toàn mới trong lĩnh vực công nghệ ngân hàng tại Việt Nam. Với công nghệ mới ESB giúp cho việc phân phối thông tin trong toàn bộ tổ chức một cách nhanh chóng và dễ dàng, giảm thiểu sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các hệ thống riêng lẻ trong cùng một tổ chức.

Công nghệ trục tích hợp ESB (Enterprise Service Bus) là một cách nhìn mới về việc tích hợp các ứng dụng, sự phối hợp các tài nguyên và kiểm soát, xử lý thông tin giữa các hệ thống trong doanh nghiệp nói chung và ngân hàng nói riêng. Đây là xu hướng công nghệ ngân hàng của thế giới và một nền tảng công nghệ hoàn toàn mới trong lĩnh vực công nghệ ngân hàng tại Việt Nam. Với công nghệ mới ESB giúp cho việc phân phối thông tin trong toàn bộ tổ chức một cách nhanh chóng và dễ dàng, giảm thiểu sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các hệ thống riêng lẻ trong cùng một tổ chức.

 

1. Đặt vấn đề

Ngày nay việc ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT) trong hoạt động ngân hàng được triển khai rộng rãi ở hầu hết các ngân hàng của Việt Nam cũng như trên thế giới nhằm đổi mới hoạt động quản lý điều hành, nâng cao hiệu quả kiểm soát nội bộ, tăng cường năng lực quản trị rủi ro... Ngay sau khi hoàn thành triển khai hệ thống Core Banking nhằm giúp thực hiện các nghiệp vụ giao dịch, quản trị hoạt động ngân hàng hàng ngày, nhiều ngân hàng đã bắt đầu đầu tư cho triển khai các hệ thống quản lý điều hành và quản trị nội bộ nhằm cung cấp và xử lý kịp thời thông tin cần thiết trong quá trình hoạt động, hỗ trợ ra quyết định, đáp ứng yêu cầu quản trị phù hợp với mô hình tổ chức, quy mô phát triển của mỗi ngân hàng. Triển khai hệ thống quản quan hệ khách hàng (CRM) hướng tới lấy khách hàng làm trọng tâm nhằm mở rộng và nâng cao chất lượng dịch vụ, chăm sóc  khách hàng đang là xu hướng chủ đạo phát triển ứng dụng công nghệ thông tin của các ngân hàng hiện nay. Tùy theo chiến lược, mục tiêu phát triển mà mức độ đầu tư của từng ngân hàng cho ứng dụng CNTT trong quản trị điều hành cũng khác nhau. Một số ứng dụng đang được các ngân hàng triển khai hiệu quả như các chương trình: Quản lý nguồn nhân lực; Quản lý tiền mặt, kho quỹ; Quản tài sản; Quản lý văn bản và điều hành tác nghiệp; Quản hiệu quả hoạt động (KPI); Định giá điều chuyển vốn nội bộ (FTP); ... và Quản lý quan hệ khách hàng (CRM).

Không thể phủ nhận lợi ích từ các ứng dụng CNTT mang lại cho các hoạt động ngân hàng và giảm thiểu gánh nặng công việc cho các cán bộ nhân viên. Nhưng khi cài đặt và vận hành hệ thống thì có thể xuất hiện hiện tượng dư thừa dữ liệu và thông tin không đồng nhất. Hiện tượng này xảy ra khi một số bộ phận, phòng ban cùng chia sẻ dữ liệu về một đối tượng cụ thể nào đó, chẳng hạn như cùng chia sẻ dữ liệu về khách hàng X, một số thông tin về X sẽ không trùng nhau ở các ứng dụng đặt ở các phòng ban khác nhau. Ví dụ khi  truy xuất  ứng dụng  tại  phòng giao  dịch  thì  khách  hàng X  có  số  dư  tài  khoản là 545.000 VNĐ nhưng 575.000 VNĐ là số dư thu được khi truy xuất ứng dụng ở phòng tín dụng. Việc này ảnh hưởng không nhỏ tới công việc cũng như quy trình làm việc của nhiều phòng ban cũng như ảnh hưởng tới uy tín của ngân hàng và niềm tin của khách hàng. Vậy khắc phục hiện tượng này bằng cách nào, giải pháp công nghệ nào sẽ được chọn để tránh việc phải lưu trữ dữ liệu ở nhiều nơi và gây ra thông tin không nhất quán. Không chỉ vậy khi mỗi phòng ban sử dụng một ứng dụng riêng còn gây ra sự thiếu thông tin và các quy trình độc lập tách biệt nhau và dẫn tới việc đưa ra quyết định thiếu chính xác của các cấp quản lý. Để giải quyết các vấn đề này, hiện nay trên thế giới và một số ngân hàng ở Việt Nam đã có kế hoạch đầu tư, triển khai trục tích hợp dịch vụ ESB (Enterprise Service Bus) kết nối các hệ thống CNTT với nhau theo kiến trúc hướng dịch vụ SOA (Service Oriented Architecture). Phần tiếp theo sẽ mô tả về giải pháp trục tích hợp ESB.

 

2. Giới thiệu công nghệ ESB

Như đã trình bày ở phần trên, các hệ thống trong doanh nghiệp cũng như tại ngân hàng thường triển khai các ứng dụng, các nền tảng và các quy trình nghiệp vụ khác nhau. Một yêu cầu thiết yếu đặt ra là chúng cần được liên kết và trao đổi thông tin với nhau. Nhưng có một vấn đề phổ biến là các hệ thống đó không sử dụng một loại định dạng dữ liệu chung cũng như không có một chuẩn giao tiếp chung. Nếu doanh nghiệp hay ngân hàng cần giao tiếp với các hệ thống bên ngoài, vấn đề tích hợp sẽ mở rộng ra khỏi phạm vi của công ty, nó bao chùm lên các hệ thống và quy trình nghiệp vụ của các doanh nghiệp khác nhau.

Trong những năm gần đây, đã có một vài công nghệ tập trung vào giải quyết những vấn đề trên như EAI (Enterprise Application Integrarion), Business to Business (B2B), SOA (Service Oriented Architecture) và Web services. Những giải pháp trên tập trung vào một vài vấn đề về tích hợp nhưng chúng thường thuộc về một công ty nào đó, đắt và tốn thời gian để thực hiện. Những vấn đề trên xảy ra từ giải pháp của các công ty lớn (giá cao, phụ thuộc vào công ty phát triển) cho đến hệ thống nhỏ hơn của những cộng đồng phát triển (chi phí cho việc bảo trì cao). Những điểm yếu lớn nhất của những giải pháp trên là giá thành cao, không khả chuyển đi kèm với vấn đề không được chuẩn hóa. Và sự ra đời của công nghệ ESB đã giải quyết được các vấn đề trên.

Trong mô hình ESB thay vì tương tác trực tiếp, các bên tham gia vào một tương tác dịch vụ sẽ giao tiếp thông qua một kênh (bus) hay còn gọi là một trục tích hợp ESB - cơ sở hạ tầng có tính quyết định trong việc liên kết các ứng dụng lại với nhau như thể hiện ở hình dưới:

Hình 1 - Trục tích hợp ESB kết nối các ứng dụng khác nhau

Vai trò của ESB trong mô hình kiến trúc hướng dịch vụ:

  • Địa điểm và nhân dạng: Bên tham gia không cần biết địa điểm hoặc nhân dạng của các bên tham gia khác. Ví dụ, bên yêu cầu không cần phải biết rằng một yêu cầu có thể được phục vụ bởi bất kỳ một bên cung cấp dịch vụ nào. Bên cung cấp dịch vụ có thể được thêm vào hoặc gỡ bỏ mà không làm đổ vỡ hệ thống.
  • Giao thức tương tác: Những bên tham gia không cần phải chia sẻ cùng một giao thức giao tiếp hay dạng tương tác.
  • Giao diện: Các bên yêu cầu và bên cung cấp dịch vụ không cần phải đồng ý  về một giao diện chung. ESB hóa giải các sự khác nhau bằng cách chuyển đổi các thông báo yêu cầu thành một khuôn dạng mà nhà cung cấp trông đợi.
  • Chất lượng (Tương tác), Dịch vụ (QoS): Các bên tham gia khai báo các yêu cầu dịch vụ của mình, bao gồm cả hiệu năng và độ tin cậy, quyền hạn của các yêu cầu, mã hóa/giải mã các nội dung thông báo, kiểm tra tự động các tương tác dịch vụ và việc định tuyến các yêu cầu ấy như thế nào.

Như vậy, mô hình ESB tránh cho bên yêu cầu không cần phải biết rõ việc thực hiện thực tế của bên cung cấp dịch vụ - từ quan điểm của cả nhà phát triển lẫn nhà triển khai ứng dụng. ESB sẽ chịu trách nhiệm về việc phân phối các yêu cầu tới bên cung cấp dịch vụ có đưa ra các chức năng và dịch vụ cần thiết. Các bên cung cấp dịch vụ nhận được các yêu cầu và chúng sẽ đáp ứng yêu cầu đó mà không biết nguồn gốc của thông báo. Chính ESB cũng là trong suốt đối với các bên yêu cầu và cung cấp dịch vụ đang sử dụng nó. Logic ứng dụng có thể gọi hoặc phân phối dịch vụ bằng cách sử dụng một loạt các mô hình và các kỹ thuật lập trình mà không cần phải xem xét có kết nối trực tiếp không hoặc có đi xuyên qua một ESB không. Kết nối đến một ESB là một quyết định triển khai; mã nguồn ứng dụng không thay đổi [1].

Ví dụ sau đây mô tả hệ thống sử dụng ESB, trong hệ thống như Hình 2 dưới đây tất cả  các ứng dụng đều được cung cấp như các dịch vụ trong doanh nghiệp. Các ứng dụng này kết nối với nhau thông qua các kênh ảo đáng tin cậy, an toàn và dễ quản lý. Dữ liệu  được chuyển đổi có thể được tương tác với trục bus và quy trình tương tác có thể được thực thi một cách có kiểm soát.

Hình 2: Mô hình cụ thể sử dụng ESB

Một hệ thống ESB theo chuẩn giải quyết các vấn đề liên quan đến việc tích hợp mà không cần phải xóa bỏ những giải pháp có sẵn. Mục đích của ESB là làm cho việc tích hợp các ứng dụng và quy trình trở nên thuận tiện hơn bằng cách cung cấp một quy trình phân tán, điều hướng thông minh, bảo mật và có thể tự động chuyển đổi dữ liệu. Trong hệ thống ESB những dịch vụ trên là những dịch vụ nền tảng do đó các ứng dụng không cần phải thi hành riêng biệt những yêu cầu trên theo một cách thức riêng biệt của chúng.

ESB tập trung vào giải quyết những điểm yếu của những giải pháp có sẵn bằng cách tạo  ra một nền tảng chuẩn cho việc tích hợp. Giải pháp point to point, yêu cầu cứ n thành phần tham gia hệ thống thì phải có n-1 interface để có thể giao tiếp được với các thành phần còn lại, được thay thế bằng giải pháp bus, mỗi thành phần chỉ yêu cầu có 1 interface để giao tiếp với bus và thông qua bus để giao tiếp với các thành phần còn lại. Một hệ thống ESB cung cấp việc giao tiếp phân tán, chuyển hướng, xử nghiệp vụ, ổn định và bảo mật. Nó cũng cung cấp các dịch vụ có khả năng plug-and-play bởi vì nó dựa trên chuẩn nên những dịch vụ plug-and-play này có thể được cung cấp bởi các công ty khác và hoạt động trên bus.

Các đặc tính của một hệ thống nền tảng tích hợp ESB:

  • Phân tán – loại bỏ những ràng buộc về triển khai hệ thống
  • Dựa trên việc trao đổi thông điệp (message) – tăng sự liên kết yếu
  • Dựa trên các chuẩn mở – để không bị phụ thuộc vào một công ty nào và khuyến khích các thành phần khác nhau tham gia xây dựng.
  • Ổn định – để thỏa mãn những yêu cầu về thực thi nghiệp vụ Vì là một nền tảng tích hợp, ESB còn cung cấp một số chức năng sau:
    • Chuyển hướng.
    • Chuyển đổi dữ liệu.
    • Tính rõ ràng – việc chuyển hướng dựa trên nội dung của message.

ESB còn hỗ trợ các yêu cầu như là bảo mật, phối hợp giữa các bộ phận và giao dịch. Những yêu cầu cần phải có trong việc tích hợp nhưng lại không tồn tại sẵn trong kiến trúc hướng dịch vụ. Một trong những yêu cầu chính của ESB là giảm tính liến kết của các thành phần tham gia, việc tích hợp dựa trên hướng dịch vụ là một mức độ của tính ổn  định và bảo mật trong các hệ thống doanh nghiệp. Hơn thế nữa một trong những yêu cầu mới của các hệ thống ESB là không chỉ là giảm tính liên kết trong kiến trúc hướng dịch  vụ mà còn cung cấp nền tảng cho kiến trúc điều khiển theo sự kiện.

3. Lợi ích công nghệ ESB

Như đã trình bày ở phần 2 thì ưu điểm chính của hệ thống ESB là cho phép các ứng dụng khác nhau có thể giao tiếp được với nhau bằng cách hoạt động như một hệ thống trung chuyển cho phép truyền dữ liệu giữa các ứng dụng trong doanh nghiệp cũng như trong ngân hàng thông qua mạng Internet để đảm bảo thông tin được cập nhật liên tục và được chia sẻ đồng nhất giữa các bộ phận khác nhau.

Như vậy khi hệ thống ESB được xây dựng thì hệ thống này có khả năng:

  • Phân phối thông tin cho toàn bộ doanh nghiệp một cách nhanh chóng và dễ dàng.
  • Ẩn đi các nền tảng khách nhau phía sau của kiến trúc phần mềm và các giao thức mạng.
  • Đảm bảo thông tin được chuyển đi cho dù thậm chí khi vài hệ thống hoặc mạng bị ngừng hoạt động gián đoạn.
  • Định tuyến, lưu vết và lưu trữ thông tin không đòi hỏi các ứng dụng cần viết lại.
  • Đáp ứng việc triển khai dần dần, doanh nghiệp không nhất thiết phải chuyển toàn bộ dịch vụ hay các ứng dụng ngay hoặc toàn bộ trong một lần.

Hiểu cách khác, ESB thực hiện phân phối các dịch vụ cho các hệ thống và các ứng dụng không đồng nhất phía sau với người dùng phía trước hay các hệ thống cần thông tin cũng không đồng nhất. Khi đó, các phần mềm lớp giữa sẵn sàng thực hiện: Ẩn các phần phức tạp, đơn giản hóa các truy nhập, cho phép các nhà phát triển sử dụng các form truy vấn chung và đồng nhất, truy nhập và tương tác, xử lý các chi tiết phức tạp phía sau.

Sự hấp dẫn của ESB và có thể thành công trong tương lai, chính là khả năng hỗ trợ sự tăng lên nhanh chóng các dịch vụ và các ứng dụng tích hợp trong các hệ thống của tổ chức doanh nghiệp theo đòi hỏi của nghiệp vụ kinh doanh có thể vượt quá khả năng của công nghệ của các hệ thống đó.

4. Thực trạng tại Việt Nam

Đầu tư ứng dụng CNTT cho hoạt động nghiệp vụ, quản trị điều hành là một quá trình liên tục và lâu dài, khó khăn chính là tính đồng bộ, kết nối các hệ thống với nhau để đảm bảo thông tin được đồng nhất và quy trình nghiệp vụ giữa các phòng ban được kết nối với nhau. Giải pháp được trình bày ở các mục trên là giải pháp sử dụng công nghệ trục tích hợp ESB (Enterprise Service Bus) để giảm thiểu dư thừa dữ liệu và dữ liệu không nhất quán.

Ở Việt Nam hiện nay Ngân hàng TMCP Kỹ thương đã triển khai ESB, tiếp tục chuyển dịch kiến trúc ứng dụng tổng thể của ngân hàng bằng kiến trúc hướng dịch vụ SOA, mở rộng trục tích hợp dịch vụ ESB trong các năm tới. Ngoài ra Ngân hàng TMCP Quốc tế VIP, một trong những ngân hàng có hệ thống công nghệ ngân hàng vượt trội với việc  triển khai rất nhiều dự án trọng điểm, nắm bắt được xu hướng công nghệ ngân hàng của thế giới, ngân hàng đã tiến hành đưa vào sử dụng một nền tảng công nghệ ESB (Enterprise Service Bus) - một nền tảng công nghệ hoàn toàn mới trong lĩnh vực công nghệ ngân hàng tại Việt Nam. Việc xây dựng và phát triển nền tảng ESB được coi như đặt viên gạch đầu tiên trong quá trình xây dựng kiến trúc hướng dịch vụ (SOA). Với ESB, VIB có thể giảm thiểu sự phụ thuộc lẫn nhau của các thành phần trong hệ thống công nghệ ngân hàng, có khả năng tích hợp các dịch vụ và ứng dụng mới ra thị trường với thời gian nhanh, giá thành thấp và ảnh hưởng ít đến các hệ thống hiện tại [3].

Ngày 15/5/2014, đã diễn ra Lễ trao hợp đồng gói thầu SG 3.1 “Ngân hàng lõi, các ứng dụng Kế toán, Ngân sách và Tích hợp Hệ thống cho Ngân Hàng Nhà Nước Việt Nam” giữa Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Công ty Hệ thống Thông tin FPT (FPT IS). Sau khi hoàn thiện, gói thầu SG 3.1 sẽ cung cấp hệ thống ngân hàng lõi (Core Banking) có  bản quyền, hệ thống quản trị tài chính, lập ngân sách và tích hợp hệ thống trên nền tảng trục tích hợp tập trung (Enterprise Services Bus - ESB) hiện đại theo chuẩn quốc tế cho Ngân hàng Nhà nước. Đây được coi là bước tiến mạnh mẽ trong việc ứng dụng Công nghệ thông tin (CNTT) nhằm đáp ứng những yêu cầu ngày càng cao về các hoạt động nghiệp vụ của Ngân hàng Nhà nước. Một số lợi ích nổi bật của gói thầu SG 3.1 “Trang bị hệ thống Ngân hàng lõi, các ứng dụng Kế toán, Ngân sách và Tích hợp Hệ thống cho Ngân Hàng Nhà Nước Việt Nam”.

5. Kết luận

Mô hình ESB trình bày ở trên đã tạo điều kiện thuận lợi cho các tương tác giao dịch và trao đổi thông tin giữa những bên yêu cầu dịch vụ và bên cung cấp dịch vụ không ăn  khớp với nhau. ESB cũng cung cấp một mô hình chung để triển khai, quản lý và quản trị các dịch vụ. Nói cách khác nền tảng ESB cung cấp hạ tầng tích hợp giữa các hệ thống khác với hệ thống Core Banking và kế toán… để đảm bảo thông tin luôn được cập nhật và đồng bộ giữa các hệ thống giúp việc kiểm soát thông tin trong toàn bộ hệ thống được thuận lợi hơn và hỗ trợ tốt nhất cho việc ra quyết định của các nhà quản lý. Việc lựa chọn giải pháp kiến trúc công nghệ thông tin cho ngân hàng tại Việt Nam cần được các ngân hàng cân nhắc kỹ lưỡng và sáng tạo, nhằm đảm bảo đầu tư hiệu quả. Đầu tư cho công nghệ không những là yêu cầu mà còn là cuộc cạnh tranh thực sự giữa các ngân hàng thương mại. Hy vọng những năm sắp tới công nghệ ESB sẽ được mở rộng triển khai và đưa vào ứng dụng tại nhiều ngân hàng ở Việt Nam.

Tài liệu tham khảo:

  1. http://www.aita.gov.vn/tin-tuc/1785/vai-tro-cua-truc-tich-hop-esb-trong-kien-truc-ung- dung-huong-dich-vu-soa
  1. http://www.ibm.com/developerworks/vn/library/ws-soa-progmodel4/
  2. http://kinhdoanh.vnexpress.net/tin-tuc/thuong-mai-dien-tu/giai-phap-cong-nghe-thong- tin-cho-ngan-hang-2913048.html
  3. http://ictnews.vn/cntt/fpt-is-cung-cap-he-thong-ngan-hang-loi-cho-ngan-hang-nha- nuoc-116828.ict
  4. An Introduction to the Enterprise Service Bus, Martin Breest, University of Potsdam, Germany.

ThS. Ngô Thùy Linh

Khoa Hệ thống Thông tin Quản lý – Học viện Ngân hàng

Email: linhnt.hvnh@gmail.com