KHO TRI THỨC KHO TRI THỨC

Một số khía cạnh của việc ứng dụng phần mềm mã nguồn mở trong hoạt động của các cơ quan nhà nước
Ngày đăng 29/03/2017 | 16:55

Ngày nay, việc ứng dụng phần mềm mã nguồn mở trong hoạt động của các cơ quan công quyền diễn ra rất phổ biến trên thế giới. Ở châu Âu, chính phủ của nhiều quốc gia như Đan mạch, Phần Lan, Đức, Italia, Na uy, Tây Ban Nha, Thụy Điển, Hà Lan và Anh đã nhận thức rõ các lợi ích của phần mềm mã nguồn mở và khuyến khích việc sử dụng ngày càng nhiều hơn loại phần mềm này.

Ngày nay, việc ứng dụng phần mềm mã nguồn mở trong hoạt động của các cơ quan công quyền diễn ra rất phổ biến trên thế giới. Ở châu Âu, chính phủ của nhiều quốc gia như Đan mạch, Phần Lan, Đức, Italia, Na uy, Tây Ban Nha, Thụy Điển, Hà Lan và Anh đã nhận thức rõ các lợi ích của phần mềm mã nguồn mở và khuyến khích việc sử dụng ngày càng nhiều hơn loại phần mềm này. Tại Brazil, chính phủ nước này đã công bố kế hoạch để sử dụng phần mềm Linux cho 80% máy tính tại các Bộ, ngành và các doanh nghiệp thuộc sở hữu nhà nước. Tại Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Chính phủ đã làm việc chặt chẽ với các doanh nghiệp tư nhân để đẩy mạnh phát triển các phần mềm mã nguồn mở đáp ứng nhu cầu của Chính phủ và người dân tại quốc gia này. Tại Mỹ, Chính phủ đã khởi động chương trình hợp tác phát triển mã nguồn mở Chính phủ, một chương trình hợp tác tự nguyện giữa các cơ quan công quyền và các viện nghiên cứu phi lợi nhuận, khuyến khích việc chia sẻ mã nguồn của các ứng dụng được phát triển cho các cơ quan chính phủ, nhờ đó làm cho việc sử dụng các phần mềm mã nguồn mở trở nên hiệu quả hơn. Tại các quốc gia trên, sự tích cực của các cơ quan công quyền trong việc chấp nhận và áp dụng các giải pháp dựa trên mã nguồn mở, các tiêu chuẩn mở cũng đã lan tỏa tới các khu vực tư nhân, làm cho việc ứng dụng mã nguồn mở rộng rãi hơn trong xã hội, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngành công nghiệp phần mềm trong nước.

Phần mềm mã nguồn mở nhận được sự ủng hộ mạnh mẽ của nhiều Chính phủ trên thế giới, trong đó có Chính phủ Mỹ, cường quốc hàng đầu về CNTT và cũng là nơi sản sinh ra rất nhiều các công ty phần mềm có sản phẩm, giải pháp thương mại được sử dụng rộng rãi trên toàn thế giới. Tại Việt Nam, chủ trương của Đảng và Nhà nước là khuyến khích và ủng hộ tích cực cho sự triển phần mềm mã nguồn mở. Điều này đã được thể hiện rõ thông qua nhiều văn bản của Chính phủ đã được ban hành thời gian vừa qua như Chỉ thị 07/2008/CT-BTTTT năm 2008 về đẩy mạnh sử dụng phần mềm mã nguồn mở trong hoạt động của cơ quan, tổ chức nhà nước, thông tư 19/2011/TT-BTTTT về việc áp dụng tiêu chuẩn định dạng tài liệu mở trong cơ quan nhà nước, thông tư 20/2014/TT-BTTTT quy định về các sản phẩm phần mềm nguồn mở được ưu tiên mua sắm, sử dụng trong cơ quan, tổ chức nhà nước, thông tư 03/2014/TT-BTTTT quy định Chuẩn kỹ năng sử dụng công nghệ thông tin và gần đây nhất tiếp tục được khẳng định trong Nghị quyết số 26/NQ-CP ngày 15/04/2015 của Chính phủ ban hành Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện nghị quyết 36-NQ/TW ngày 01/7/2014 của Bộ Chính trị Ban chấp hành TW Đảng cộng sản Việt Nam về đẩy mạnh ứng dụng, phát triển công nghệ thông tin đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững và hội hội nhập quốc tế.

Phần tiếp theo của bài viết này sẽ tập trung phân tích và tìm hiểu những khía cạnh khác nhau của việc ứng dụng phần mềm mã nguồn mở cho hoạt động của các cơ quan nhà nước, xem xét vận dụng một số kinh nghiệm thực tiễn trên thế giới và đề xuất một số biện pháp để tiếp tục cụ thể hóa các chủ trương về đẩy mạnh ứng dụng phần mềm mã nguồn mở tại Việt Nam.

a) Vấn đề chi phí đầu tư cho phần mềm trong cơ sở hạ tầng ứng dụng công nghệ thông tin của cơ quan nhà nước

Khi xem xét về khả năng cân đối nguồn vốn đầu tư, một số quốc gia trên thế giới đã lựa chọn chuyển đổi từ các phần mềm thương mại sang các phần mềm mã nguồn mở để giảm chi phí phải trả cho việc mua giấy phép sử dụng và quản trị các phần mềm thương mại, đặc biệt khi các chính sách về giấy phép sử dụng phần mềm của một số hãng phần mềm thương mại có sự thay đổi, làm cho mức phí phải trả của một số Chính phủ tăng lên rất nhiều. Trong các yếu tố cấu thành tổng phí sở hữu của một phần mềm (bao gồm chi phí tiếp nhận, chi phí chuyển đổi, chi phí quản trị,  chi phí hỗ trợ) thì phần mềm mã nguồn mở có lợi thế đầu tiên khi mà chi phí tiếp nhận ở mức thấp, có thể tải về miễn phí hoặc với một phải trả một khoản phí nhỏ cho việc hỗ trợ sản phẩm. Các khoản chi phí còn lại trong tổng phí sở hữu phần mềm ít hay nhiều phụ thuộc vào nhu cầu và hiện trạng cụ thể và nhìn chung là khác nhau khi phần mềm được áp dụng tại các địa phương khác nhau (lấy ví dụ như kỹ năng của người sử dụng tại mỗi địa phương khác nhau sẽ dẫn tới phát sinh các chi phí cho việc đào tạo, hướng dẫn sử dụng chẳng hạn). Để giảm tổng phí sở hữu phần mềm, một số chính phủ đã có các kinh nghiệm hay để giảm các khoản chi phí này, lấy ví dụ như trường hợp tại Trung Quốc, chính quyền thành phố Bắc Kinh đã khuyến khích các doanh nghiệp hay chuyên gia tại địa phương tham gia vào quá trình phát triển và hỗ trợ phần mềm nguồn mở (thay cho việc sử dụng các hỗ trợ từ nước ngoài). Một biện pháp khác đó là chính quyền khuyến khích các cơ quan nhà nước mua sắm các thiết bị phần cứng từ các nhà cung cấp thiết bị có cung cấp các dịch vụ hỗ trợ về phần mềm nguồn mở, nhờ đó chi phí chuyển đổi, quản trị hay hỗ trợ sử dụng phần mềm nguồn mở sẽ được giảm bớt. Có thể thấy, việc sử dụng các phần mềm mã nguồn mở có khả năng giảm được chi phí đầu tư cần thiết cho việc mua sắm, phát triển, duy trì phần mềm cần thiết trong các cơ quan nhà nước. Tại Việt Nam, trong điều kiện nguồn kinh phí đầu tư cho ứng dụng công nghệ thông tin của các cơ quan nhà nước rất hạn hẹp hiện nay, việc quan tâm triển khai các phần mềm mã nguồn mở trong hoạt động của cơ quan nhà nước là một giải pháp quan trọng, cụ thể với một số đề xuất bao gồm: (i) cơ quan nhà nước cần đẩy mạnh việc ứng dụng các giải pháp phần mềm mã nguồn mở trong công tác văn phòng như các phần mềm soạn thảo văn bản, bảng tính điện tử, trình chiếu điện tử…, và các phần mềm khác thuộc danh mục sản phẩm phần mềm nguồn mở được ưu tiên mua sắm, sử dụng trong cơ quan, tổ chức nhà nước, (ii) khuyến khích việc áp dụng các nền tảng phát triển Chính phủ điện tử dựa trên mã nguồn mở trong khung kiến trúc điện tử Chính phủ điện tử, kiến trúc chính quyền điện tử tại các địa phương và (iii) có chính sách cụ thể, hỗ trợ về thuế, hỗ trợ xúc tiến, quảng bá sản phẩm, ưu tiên khi tham gia các gói thầu cung cấp sản phẩm phần mềm đối với các doanh nghiệp phát triển sản phẩm dựa trên mã nguồn mở, có sản phẩm đã cung cấp cho cơ quan nhà nước và có các đóng góp tích cực trong việc phát triển các cộng đồng phát triển mã nguồn mở tại Việt Nam.

b) Vấn đề an ninh thông tin và sự minh bạch

Sử dụng các phần mềm mã nguồn mở sẽ cho phép nhiều người có thể xem xét mã nguồn hơn, từ đó, sớm phát hiện được các lỗ hổng về an ninh hơn là các phần mềm thương mại, nơi chỉ có một nhóm nhỏ phát triển sản phẩm có thể nhìn thấy mã nguồn. Thêm nữa, phản ứng đối với các lỗ hổng về an ninh của các phần mềm thương mại sẽ cần nhiều thời gian, bởi cần có thời gian từ lúc có các báo cáo về vấn đề an ninh tới lúc phát hành các bản vá và cập nhật phần mềm, đôi lúc không đáp ứng được trong những trường hợp khẩn cấp. Trong khi đối với phần mềm nguồn mở, nếu một lỗ hổng phần mềm được phát hiện sẽ gây sự chú ý của nhiều chuyên gia bảo mật tham gia phát triển, nhờ đó, vấn đề an ninh cũng sẽ được giải quyết nhanh hơn. Ngoài ra, trong vấn đề an ninh của phần mềm mã nguồn mở, một số quốc gia trên thế giới lựa chọn phần mềm mã nguồn mở thay thế cho các phần mềm độc quyền từ các quốc gia khác bởi lo ngại về các lỗ hổng về an ninh ẩn trong các phần mềm được cung cấp từ các quốc gia khác. Nhờ tính minh bạch của mã nguồn, phần mềm nguồn mở có thể loại bỏ được lo ngại này, các lỗ hổng về an ninh có thể được phát hiện khi rà soát trong mã nguồn được công bố. Như vậy, có thể thấy, sử dụng phần mềm mã nguồn mở giúp giảm được các lỗ hổng về an ninh thông tin và tăng tính minh bạch, một trong những yêu cầu quan trọng trong việc ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của các cơ quan Nhà nước hiện nay.

c) Về đảm bảo tính tương thích và khả năng truy cập dữ liệu trong tương lai

Trong hoạt động của mình, cơ quan nhà nước có trách nhiệm phải xử lý và lưu trữ một khối lượng lớn các dữ liệu riêng tư và có tính nhạy cảm, chẳng hạn như số chứng minh thư cá nhân, các hồ sơ y tế, hồ sơ bảo hiểm và các dữ liệu khác và phải đảm bảo rằng các dữ liệu này luôn sẵn sàng kể cả sau hàng chục năm thậm chí hàng thế kỷ nữa. Do đó, về mặt kỹ thuật, các cơ quan nhà nước cần phải lưu trữ dữ liệu trong một định dạng dữ liệu phổ biến, có tính mở, để đảm bảo khả năng truy cập vào dữ liệu trong tương lai. Trong thực tế, một số công ty phần mềm thương mại đã tìm cách tăng sự phụ thuộc của người dùng vào sản phẩm của họ, bằng cách  làm cung cấp các giải pháp phần mềm với vào các định dạng dữ liệu đặc biệt độc quyền và che dấu thông tin kỹ thuật về định dạng dữ liệu đó. Trong trường hợp công ty đó ngừng hoạt động kinh doanh hoặc không hỗ trợ sản phẩm phần mềm nữa thì rất có khả năng, các dữ liệu quan trọng có thể không truy cập được nữa. Chính vì vậy, bằng cách sử dụng các phần mềm mã nguồn mở hoặc phần mềm có hỗ trợ các tiêu chuẩn mở, cơ quan nhà nước có thể tránh tình trạng bị phụ thuộc vào một định dạng tệp tin hay dữ liệu độc quyền, đảm bảo được rằng các dữ liệu của mình có thể truy cập trong tương lai. Có thể thấy sử dụng phần mềm mã nguồn mở và các tiêu chuẩn mở giúp tăng khả năng đảm bảo tính tương thích và sẵn sàng của dữ liệu số trong tương lai. Tại Việt Nam, trong công tác triển khai các hệ thống phần mềm quản trị nội dung tổng thể, phần mềm quản lý văn bản và tới đây là các hệ thống phần mềm phục vụ việc lưu trữ điện tử, việc tăng cường ứng dụng các phần mềm, định dạng tài liệu mở, định dạng lưu trữ hồ sơ điện tử mở là công việc hết sức cần thiết.

d) Giảm sự phụ thuộc vào các công nghệ độc quyền và thúc đẩy phát triển lĩnh vực phát triển phần mềm trong nước

Sự độc lập về công nghệ thông tin và từng bước giảm bớt sự phụ thuộc vào công nghệ của nước ngoài giúp phát triển kinh tế quốc gia. Việc Chính phủ khuyến khích các công ty trong nước tham gia vào sự phát triển các phần mềm mã nguồn mở không chỉ giúp giảm bớt chi phí phải trả cho giấy phép sử dụng công nghệ của nước ngoài mà còn giúp tăng cường sự phát triển của ngành công nghiệp phần mềm tại địa phương. Khi sử dụng các giải pháp phần mềm mã nguồn mở, nhờ tự chủ được về mặt công nghệ, các nhà cung cấp phần mềm trong nước có thể xử lý tốt hơn các trục trặc kỹ thuật phát sinh từ sản phẩm của mình, đồng thời giúp cho nguồn vốn đầu tư của nhà nước có thể được bảo tồn, phát triển trong nội địa. Một khía cạnh nữa, đối với các quốc gia có ngành công nghiệp phần mềm đang phát triển để vươn ra thế giới như Việt Nam, các phần mềm mã nguồn mở rất có ý nghĩa đối với việc giáo dục và đổi mới. Các phần mềm mã nguồn mở mang lại cơ hội học tập tốt cho các sinh viên, các nhà phát triển phần mềm nhờ cơ hội nghiên cứu sâu, học tập từ trong mã nguồn có chất lượng tốt. Ngoài ra, mã nguồn của chính đội ngũ lập trình viên trong nước có thể được chia sẻ với các lập trình viên khác trên thế giới, nhờ đó có được sự cọ xát, nhận được các góp ý, chia sẻ kinh nghiệm, sẽ giúp gia tăng kỹ năng và từng bước xây dựng được những sản phẩm cung đáp ứng nhu cầu ngày càng cao. Một yếu tố nữa đó là khả năng tối ưu hóa và bản địa hóa các phần mềm mã nguồn mở phù hợp với với yếu tố văn hóa của từng địa phương cũng là một lợi ích khi sử dụng phần mềm mã nguồn mở. Nhờ khả năng bản địa hóa, hỗ trợ ngôn ngữ tiếng Việt và các ngôn ngữ trong nước khác, phù hợp với văn hóa địa phương, phần mềm mã nguồn mở sẽ được sử dụng rộng rãi hơn, dễ dàng hơn, đáp ứng tốt hơn các nhu cầu của người sử dụng trong nước. Đây cũng là một lợi thế so sánh mà các doanh nghiệp phần mềm trong nước cần tận dụng để chiếm lĩnh tốt hơn thị trường phần mềm trong nước và cạnh tranh với các sản phẩm cùng loại của nước ngoài. Bên cạnh đó, Nhà nước cũng cần có các chính sách để hỗ trợ phát triển các cộng đồng phát triển phần mềm nguồn mở, đặc biệt trong hỗ trợ kết nối cộng đồng phát triển phần mềm nguồn mở trong nước với cộng đồng học sinh, sinh viên, người Việt Nam trong lĩnh vực công nghệ thông tin ở nước ngoài để hình thành cộng đồng mã nguồn mở của Việt Nam đủ mạnh, phong phú, góp phần tích cực cho sự phát triển của lĩnh vực công nghệ thông tin của đất nước.

e) Hạn chế tình trạng vi phạm bản quyền trong lĩnh vực phần mềm

Một số quốc gia trên thế giới xem xét các giải pháp phần mềm mã nguồn mở như một phương tiện để giảm tình trạng sử dụng phần mềm lậu, vi phạm quyền sở hữu trí tuệ tại quốc gia của mình. Tại một số quốc gia đang phát triển, khi GDP bình quân đầu người hàng năm còn thấp, đặc biệt nguồn vốn đầu tư cho ứng dụng công nghệ thông tin từ nguồn ngân sách còn hạn hẹp thì chi phí để sử dụng phần mềm có bản quyền thương mại là một trở ngại lớn. Như trường hợp của Pakistan, để giảm tình trạng vi phạm về bản quyền phần mềm, chính phủ Pakistan đã thành lập một nhóm công tác chuyên trách về phần mềm GNU/Linux, chấp nhận Linux và các phần mềm mã nguồn mở khác trong lĩnh vực công và giáo dục và tích cực quảng bá về các lợi ích của việc sử dụng phần mềm mã nguồn mở tới mọi người dân. Tại Trung Quốc, Chính phủ nước này quyết định đối phó với tình trạng vi phạm bản quyền phần mềm bằng cách đầu tư cho một số công ty phát triển phần mềm mã nguồn mở bản địa như Hệ điều hành Hồng Kỳ dựa trên Linux và cung cấp các hỗ trợ phát triển thị trường nội địa cho các công ty trong nước. Trong các gói thầu mua sắm của cơ quan Chính phủ, Trung Quốc cũng có những ưu đãi cho các công ty trong nước khi tham gia các gói thầu cung cấp phần mềm văn phòng, nhờ đó, giảm dần sự phụ thuộc vào các nhà cung cấp phần mềm thương mại độc quyền. Quyết định này của Chính phủ Trung Quốc đã mang lại một hiệu ứng không mong đợi đó là Microsoft đã thực hiện các đầu tư lớn cho việc phát triển các sản phẩm phần mềm giành riêng cho người Trung Quốc và xây dựng các trung tâm nghiên cứu phát triển tại Trung Quốc. Các trung tâm này sử dụng nguồn nhân lực bản địa và đóng góp hiệu quả trong việc nâng cao khả năng cạnh tranh của ngành công nghiệp phần mềm của nước này. Tại Việt Nam, theo báo cáo của liên minh phần mềm BSA, tỷ lệ sử dụng phần mềm máy tính không bản quyền ở Việt Nam năm 2015 là 78%, vẫn là một tỷ lệ khá cao. Để ứng dụng công nghệ thông tin ngày càng sâu rộng hơn, thực hiện tốt các chủ trương mà Đảng và Nhà nước đã đặt ra, cần xây dựng các chính sách để thúc đẩy thị trường sản phẩm phần mềm trong nước, tận dụng các lợi thế mà phần mềm mã nguồn mở có được để đảm bảo đáp ứng nhu cầu nội địa, đồng thời giúp giảm tình trạng vi phạm về bản quyền phần mềm tại Việt Nam hiện nay.

Thông qua việc phân tích một số các khía cạnh khác nhau của việc ứng dụng phần mềm nguồn mở trong hoạt động của cơ quan nhà nước, bài nghiên cứu đã xác định được sự cần thiết của việc ứng dụng phần mềm mã nguồn mở trong hoạt động của cơ quan nhà nước, đặc biệt trong giai đoạn hiện nay, khi ứng dụng công nghệ thông tin đã đi vào mọi ngõ ngách của xã hội và yêu cầu đầu tư ứng dụng công nghệ thông tin ngày càng phải thiết thực hơn, hiệu quả hơn. Các nội dung được triển khai trong bài viết đã làm rõ được những lợi ích của việc ứng dụng phần mềm mã nguồn mở trong hoạt động của cơ quan nhà nước bao gồm (i) giúp giảm được kinh phí đầu tư cần thiết, (ii) đảm bảo tính tương thích của dữ liệu số trong tương lai, (iii) bảo đảm an ninh và tăng cường sự minh bạch, (iv) giảm sự phụ thuộc công nghệ nước ngoài và thúc đẩy sự phát triển của lĩnh vực sản xuất phần mềm trong nước và (v) giảm tình trạng vi phạm về bản quyền phần mềm, cũng như có một số đề xuất để tiếp tục thúc đẩy ứng dụng phần mềm mã nguồn mở trong giai đoạn hiện nay. Việc đầu tư đúng mức cho phần mềm mã nguồn mở trong hoạt động của cơ quan nhà nước hiện nay là một giải pháp thiết thực, góp phần tiếp tục đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, xây dựng Chính phủ điện tử và hỗ trợ tốt cho sự phát triển của lĩnh vực công nghệ thông tin tại Việt Nam.

Tài liệu tham khảo:

- Xu hướng phát triển của phần mềm mã nguồn mở và ý nghĩa đối với người dân, doanh nghiệp: http://www.forbes.com 

- Tổng quan về phát triển phần mềm nguồn mở, Ming-Wei Wu, Ying-Dar Lin, trường đại học Chiao Tung, Đài Loan.

- Ứng dụng các phần mềm nguồn mở trong khu vực công. Soo-yeon Hwang, Trường đại học Michigan, Hoa Kỳ.

- Chỉ thị 07/2008/CT-BTTTT năm 2008 về đẩy mạnh sử dụng phần mềm mã nguồn mở trong hoạt động của cơ quan, tổ chức nhà nước,

- Thông tư 19/2011/TT-BTTTT về việc áp dụng tiêu chuẩn định dạng tài liệu mở trong cơ quan nhà nước, thông tư 20/2014/TT-BTTTT quy định về các sản phẩm phần mềm nguồn mở được ưu tiên mua sắm, sử dụng trong cơ quan, tổ chức nhà nước,

- Thông tư 03/2014/TT-BTTTT quy định Chuẩn kỹ năng sử dụng công nghệ thông tin.

- Nghị quyết số 26/NQ-CP ngày 15/04/2015 của Chính phủ ban hành Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện nghị quyết 36-NQ/TW ngày 01/7/2014 của Bộ Chính trị Ban chấp hành TW Đảng cộng sản Việt Nam về đẩy mạnh ứng dụng, phát triển công nghệ thông tin đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững và hội hội nhập quốc tế.

Nguyễn Hồng Quân, P.ƯDCNTTDN, Cục Tin học hóa