TIN HOẠT ĐỘNG TIN HOẠT ĐỘNG

FDS tham gia tài trợ và trình bày tại hội thảo Hội thảo chuyển đổi số trong hoạt động thông tin khoa học và công nghệ
Publish date 06/01/2020 | 14:40

Tại Hội thảo Chuyển đổi số trong hoạt động thông tin khoa học và công nghệ diễn ra ngày 8/1/2020 tại Đồ Sơn, TP Hải Phòng.

TS . Tạ Tuấn Anh – CTO của FDS đã có bài trình bày với chủ để: Chuyển đổi số ngành thông tin khoa học và công nghệ để hội thập quốc tế.

Thực trạng phát triển thông tin khoa học và công nghệ

Thông tin khoa học và công nghệ (KHCN) có ý nghĩa rất lớn trong sự phát triển nền kinh tế, xã hội của đất nước. Có nhiều loại hình ứng dụng khác nhau của thông tin KHCN dành cho các đối tượng sử dụng khác nhau gồm nhà quản lý, nhà khoa học, người dân, doanh nghiệp và các tổ chức. Thông tin KHCN thường được xây dựng dưới hình thức của các cơ sở dữ liệu cho phép người dùng tra cứu, tìm kiếm thông tin tư liệu phục vụ nghiên cứu và phát triển như thư viện điện tử; atlas điện tử; tạp chí điện tử; thông tin sở hữu công nghiệp; tiêu chuẩn kĩ thuật; kho dữ liệu mở.

Phát triển các hệ thống thông tin KHCN rất được quan tâm trên thế giới. Bên cạnh các thư viện truyền thống, các loại hình ứng dụng khác được dùng phổ biến cho thông tin KHCN có thể kể ra gồm: i) các CSDL xuất bản điện tử trong đó bao gồm cả miễn phí như các tạp chí truy cập mở hoặc có thu phí như Proquest, ScienceDirect, Springerlink, IEEE,…; ii) các CSDL chỉ mục và thông tin trích dẫn như ISI, Scopus, PubMed, Google Scholar, OpenCitation,…; iii) các kho lưu trữ truy cập mở như Datacite, arXiv, OpenAIRE,…; vi) các hệ thống quản lý đăng kí định danh cho tài liệu xuất bản và các cán bộ nghiên cứu như Crossref (DOI), ORCID, ISNI,…; vi) các hệ thống thông tin nghiên cứu chuyên ngành của các tổ chức như PubChem (hóa học), GlobalChange (biến đổi khí hậu), InspireHEP (vật lí năng lượng cao),…

Tại Việt Nam, các hệ thống thông tin KHCN được phát triển theo hệ thống phân cấp quản lí của nhà nước gồm có: i) hệ thống thông tin ở cấp độ quốc gia do Cục Thông tin KHCN của Bộ KHCN quản lý; ii) hệ thống thông tin do các bộ ngành quản lý theo lĩnh vực; iii) hệ thống thông tin do các tỉnh thành quản lý theo địa bàn hành chính; iv) hệ thống thông tin phục vụ nghiên cứu và phát triển của các tổ chức tại cơ sở (viện, trường). Những ứng dụng được khai thác nhiều nhất hiện nay ở trong nước là thư viện số của các viện, trường và CSDL quản lý thông tin đề tài, nhiệm vụ nghiên cứu ở các cấp. Nhiều tạp chí khoa học ở trong nước cũng đang chuyển dịch để thực hiện xuất bản điện tử và cung cấp truy cập mở cho người dùng. Chúng ta cũng đã bước đầu xây dựng được một CSDL thông tin trích dẫn cho các tạp chí xuất bản trong nước (V-CitationGate do Đại học quốc gia Hà Nội phát triển).

Sự tồn tại của nhiều hệ thống thông tin KHCN khác nhau ở các cấp mang lại sự đa dạng của nguồn tin nhưng lại dẫn đến sự chồng chéo, thiếu tính liên kết và không đầy đủ thông tin trong các CSDL. Nghiên cứu [1] đã đưa ra một phân tích chi tiết về thực trạng phát triển các nguồn tin KHCN của nước ta hiện nay. Các hạn chế chính trong phát triển các hệ thống thông tin KHCN tại Việt Nam có thể tổng kết như sau.

Một là, có nhiều CSDL khác nhau được phát triển nhưng chủ yếu chỉ dùng cho các nhu cầu phục vụ cục bộ. Rất thiếu sự liên kết, chia sẻ thông tin giữa các CSDL. Mới chỉ bước đầu hình thành được mạng liên kết trên phạm vị quy mô hẹp (trong địa phương, theo lĩnh vực) và vẫn còn manh mún.

Hai là, chưa phát triển được các hệ thống thông tin KHCN ở quy mô rộng chứa đầy đủ thông tin trong các lĩnh vực quản lý. Chưa khai thác được thế mạnh của các nền tảng công nghệ đám mây cho phép tích hợp, tập hợp thông tin từ nhiều CSDL.

Ba là, thiếu nền tảng dùng chung, nhất quán trong cả nước để tạo cơ sở hình thành một mạng lưới liên kết các hệ thống thông tin KHCN ở cấp độ quy mô quốc gia. Hiện một số các trường đại học trong nước đang cùng khai thác một nền tảng công nghệ chung của nhà cung cấp thương mại (ví dụ, tailieu.vn) để xây dựng hệ thống thư viện số. Tuy nhiên nền tảng này chưa đáp ứng được đầy đủ các nhu cầu quản lý thông tin KHCN trong thực tế.

Chiến lược chuyển đổi số thông tin khoa học và công nghệ

Chuyển đổi số là một yêu cầu cấp thiết trong bối cảnh hội nhập quốc tế để phát triển ngành thông tin KHCN. Cách tiếp cận trong chuyển đổi số là xây dựng hệ thống thông tin KHCN quốc gia như là một nền tảng thay cho cách tiếp cận xây dựng hướng các ứng dụng như hiện nay.

Nền tảng thông tin KHCN không nên được hiểu theo nghĩa hẹp là ứng dụng CNTT vào quản lý thông tin KHCN. Theo nghĩa rộng nền tảng là sự đổi mới toàn diện cơ chế hoạt động của thông tin KHCN dựa trên dữ liệu số trong kỉ nguyên công nghiệp 4.0. Căn cứ vào chính sách KHCN công nghệ quốc gia, nền tảng số bao gồm một chiến lược chuyển đổi số trên cơ sở khai thác các nền tảng CNTT tiên tiến để quản lý thông tin KHCN.

Chiến lược chuyển đổi số được coi như bản kế hoạch tổng thể (dài hạn) hướng tới sự đổi mới toàn diện hệ thống vận hành về thông tin KHCN của quốc gia để đạt các mục tiêu chính như sau:

i) Hình thành mạng lưới liên kết dữ liệu về thông tin khoa học công nghệ trong toàn quốc và được hội nhập với quốc tế;

ii) Khuyến khích được sự tham gia của các tổ chức phi chính phủ, doanh nghiệp tư nhân cùng đóng góp phát triển mạng lưới thông tin khoa học công nghệ;

iii) Quy hoạch phân luồng phát triển các CSDL thông tin KHCN theo cả chiều rộng và chiều sâu: các CSDL theo hướng lĩnh vực hẹp cung cấp dữ liệu chuyên sâu phục vụ cho công tác nghiên cứu của các nhà khoa học, còn các CSDL theo chiều rộng chứa thông tin toàn diện, đa ngành, có tính tổng hợp cao phục vụ cho các cơ quan nhà nước, người dân và doanh nghiệp;

iv) Ứng dụng các công nghệ tiên tiến của kỉ nguyên số trong đó có AI, bigdata, IoT vào thu thập, lưu trữ, xử lý, phân tích dữ liệu tự động để gợi ý thông tin hoặc hỗ trợ người dùng ra quyết đinh;

v) Đổi mới chính sách theo hướng khoa học mở để thúc đẩy truy cập mở đối với kết quả của các công trình nghiên cứu và phát triển.

Khung kiến trúc nền tảng số thông tin KHCN quốc gia

Xây dựng nền tảng quản lý thông tin khoa học và công nghệ quốc gia

Nền tảng quản lý thông tin KHCN dựa trên CNTT được xây dựng trên cơ sở của ba tầng kiến trúc là từ điển dữ liệu, cơ sở dữ liệu và ứng dụng. Các ứng dụng phải được phát triển trên một nền tảng chung gồm từ điển dữ liệu, các mã đinh danh và các CSDL.

Từ điển dữ liệu

Từ điển dữ liệu quy định các khái niệm và lược đồ dữ liệu được sử dụng thống nhất để phục vụ chia sẻ dữ liệu trong toàn hệ thống thông tin KHCN. Từ điển được xây dựng ở các mức độ trừu tượng từ thấp đến cao gồm: i) danh mục thuật ngữ (therausus); ii) danh mục phân loại (taxonomy); iii) đặc tả siêu dữ liệu (metadata); và iv) đặc tả ngữ nghĩa dữ liệu (ontology).

Thuật ngữ là các từ khóa thường dùng để đánh chỉ mục cho các tài liệu dùng cho mục đích tìm kiếm theo yêu cầu của người dùng. Các thuật ngữ được thu thập từ các văn bản quản lý nhà nước hoặc từ các từ điển theo lĩnh vưc chuyên ngành (y tế, tài chính, ngân hàng,..).

Danh mục phân loại là loại dữ liệu dùng để tham chiếu trong các CSDL, đây là loại dữ dùng chung để thống nhất khi khai báo và tạo lập dữ liệu trong các hệ thống thông tin. Danh mục phân loại có thể được quy định trong các văn bản quản lý nhà nước, ví dụ như quyết định số 12/2008/QĐ-BKHCN quy định phân loại các lĩnh vực nghiên cứu, các mục tiêu kinh tế-xã hội, và các dạng của hoạt động KHCN.

Danh mục cũng có thể là các bảng phân loại theo chuẩn quốc tế như bảng phân loại về sáng chế quốc tế (IPC); kiểu dáng công nghiệp (bảng phân loại Locamo); các yếu tố hình của nhãn hiệu trong đăng ký nhãn hiệu (bảng phân loại Vienne); hàng hóa/dịch vụ trong đăng ký nhãn hiệu (bảng phân loại Nice); bảng phân loại lĩnh vực tiêu chuẩn kĩ thuật.

Đặc tả siêu dữ liệu là định nghĩa tập các thuộc tính mô tả được sử dụng khi lập chỉ mục cho các loại thông tin như thư viện tài liệu, bộ dữ liệu và các đối tượng khác liệt kê một danh sách các chuẩn đặc tả siêu dữ liệu được dùng trên thế giới. Các chuẩn thường dùng là Dublin core trong lĩnh vực thông tin thư viện; DIF (Directory Interchange Format) trong lĩnh vực khoa học tự nhiên; Darwin Core trong lĩnh vực sinh học; DDI (Data Documentation Initiative) trong lĩnh vực khoa học xã hội và lưu trữ; TEI (Text Encoding Initiative) trong lĩnh vực khoa học xã hội, ngôn ngữ và con người; ISO 19115 trong lĩnh vực thông tin địa lý.

Trong kỉ nguyên số, dữ liệu dùng cho thông tin khoa học công nghệ không phải sinh ra chỉ để cho con người tìm kiếm sử dụng mà phải có khả năng dùng để cho máy tính xử lý tự hoàn toàn động. Chính vì vậy dữ liệu được tạo ra cần kèm theo ngữ nghĩa với đặc tả ontology. Hầu hết các CSDL thông tin KHCN phổ biến trên giới hiện nay đều đã và đang được chuyển đổi để đáp ứng khả năng cung cấp ngữ nghĩa dưới dạng của dữ liệu liên kết (linked data). Trong lĩnh vực thông tin KHCN, một số ontology sau đây thường dùng để đặc tả ngữ nghĩa của dữ liệu: BIBO (Bibliographic Ontology) dùng để mô tả ngữ nghĩa các chỉ mục tài liệu; ontology được ánh xạ với các lược đồ dữ liệu cũ như Bibtex, MARC, ScienceDirect; SPAR (Semantic Publishing and Referencing Ontologies) là một tập các ontology mô tả ngữ nghĩa của dữ liệu dùng trong lĩnh vực xuất bản và tham chiếu trích dẫn khoa học; GCIS (Global Change Information System) được sử dụng để xây dựng CSDL của chương trình nghiên cứu biến đổi khí hậu toàn cầu do Chính phủ Mỹ tài trợ; Datacite Schema mô tả ngữ nghĩa cho các bộ dữ liệu mở được chia sẻ trên Internet; Springer Nature SciGraph Ontology mô tả ngữ nghĩa cho dữ liệu của nhà xuất bản Springer; UN Document Ontology dùng để mô tả ngữ nghĩa cho tất cả các tài liệu được sử dụng trong tất cả các tổ chức của Liên hợp quốc.

Các cơ sở dữ liệu

Chuyển đổi số thông tin KHCN sẽ đặt trọng tâm vào việc xây dựng các nền tảng CSDL mà trên đó có thể xây dựng nhiều loại ứng dụng khác nhau để cung cấp dịch vụ cho người dùng đầu cuối. Sử dụng chung nền tảng CSDL sẽ tránh được hiện trạng đầu tư chồng chéo, dữ liệu không đầy đủ và thiếu toàn diện tại nhiều hệ thống khác nhau. Các CSDL nằm trong nền tảng được phân vào 5 nhóm chính như dưới đây.

Đầu tiên, các CSDL nghiệp vụ được tạo ra từ các ứng dụng phục vụ công tác quản lý nhà nước về KHCN dưới dạng các dịch vụ công như quản lý đề tài, nhiệm vụ KHCN; quản lý đăng kí hoạt động của các tổ chức, doanh nghiệp KHCN; quản lý nhà nước trong các lĩnh vực sở hữu công nghiệp, tiêu chuẩn đo lường chất lượng, v.v.

Loại thứ hai là các CSDL thông tin tư liệu cung cấp kho lưu trữ, dịch vụ tìm kiếm thông tin tài liệu bao gồm chỉ mục và nội dung toàn văn. CSDL này là nền tảng của các ứng dụng thư viện điện tử, thư viện số, tạp chí truy cập mở. Một số CSDL lớn đang khai thác ở Việt Nam hiện nay là CSDL toàn văn các công bố trong nước, CSDL nhiệm vụ và kết quả nghiên cứu do Cục Thông tin KHCN quốc gia quản lý; các CSDL tài liệu nội sinh, tạp chí truy cập mở của các viện nghiên cứu và trường đại học.

Loại thứ ba là CSDL thông tin địa lý (GIS) cung cấp nền tảng cho các ứng dụng atlas điện tử thường dùng trong một số ngành khoa học tự nhiên như địa lý, trái đất, tài nguyên và môi trường, sinh học,… Atlas điện tử có thể được xây dựng theo nhóm chuyên đề trên phạm vi cả nước hoặc được tổng hợp cho một địa bàn hành chính (ví dụ altas điện tử tổng hợp vùng tây nguyên, atlas điện tử của các tỉnh thành).

Loại thứ tư là các kho lưu trữ chia sẻ dữ liệu mở. Đây là nền tảng cung cấp các bộ dữ liệu có thể dùng cho nghiên cứu chuyên sâu của các nhà khoa học. Dữ liệu mở có thể được tạo ra từ việc kết xuất một CSDL sẵn có hoặc là kết quả của một nghiên cứu đã thực hiện. Người dùng có thể khai thác các bộ dữ liệu mở theo một trong hai hình thức là ngoại tuyến (tải về toàn bộ các bản ghi và sử dụng) hoặc trực tuyến (truy vấn lấy các bản ghi dữ liệu theo yêu cầu).

Cuối cùng, CSDL tích hợp là nền tảng cung cấp thông tin tổng hợp được thu thập từ nhiều nguồn CSDL khác nhau dựa trên một cấu trúc lược đồ thống nhất. Điểm khác biệt của CSDL tích hợp dùng chung là tập trung vào ngữ nghĩa và sự liên kết của dữ liệu ở các nhóm thông tin khác nhau. Trong CSDL tích hợp thường không chứa các loại dữ liệu chi tiết như nội dung toàn văn, hoặc thông tin thuộc về quy trình xử lý nghiệp vụ. CSDL trích dẫn khoa học là một ví dụ điển hình của dạng này. Nó tập trung vào việc thu thập thông tin bài báo từ nhiều nguồn xuất bản để từ đó phân tích ra mối quan hệ trích dẫn giữa các bài báo với nhau.

Các mã định danh trường tồn

Trên thế giới hiện nay, xu thế chung của các hệ thống thông tin KHCN là dùng hệ thống các mã trường tồn (Persitent ID) để định danh các tài nguyên. Một mã PID sẽ tồn tại suốt đời và không thay đổi cho một đối tượng dữ liệu được mô tả. Một trong những đặc điểm sử dụng mã PID là người dùng có thể truy xuất đầy đủ thông tin của đối tượng được mô tả trên Web mà không cần biết hệ thống CNTT phía sau của nó. Ví dụ như người dùng có thể truy cập tới nơi xuất bản gốc của các công bố có mã định danh DOI tại địa chỉ https://doi.org/<doi>.

Các loại mã PID thường được dùng để định danh cho 3 nhóm đối tượng chính trong thông tin KHCN. Thứ nhất là các mã định danh sử dụng cho các loại tài nguyên số gồm có DOI (Digital Object Identifier), Handle, ARK (Archival Resource). Thứ hai là các loại mã dùng để định danh cho cá nhân như Scopus ID, ResearcherID, ORCID ID, ResearchGate, Linkedin. Cuối cùng là các loại mã dùng để định danh cho tổ chức như ISNI (ISO 27729), PSI (Publisher Solutions International), Ringgold, LEI (Legal Entity Identifier).

Giải pháp chuyển đổi số để hội nhập quốc tế

Trong thời đại công nghệ số, việc phát triển các nguồn tin KHCN nội sinh được coi là nhiệm vụ công việc trọng tâm. Tuy nhiên việc phát triển các nguồn tin nội sinh phải bảo đảm tính mở và chuẩn hóa để có thể hội nhập được với quốc tế. Trước tiên các công bố trong nước cần chuyển đổi để đáp ứng tiêu chí xuất bản điện tử theo chuẩn mực thế giới. Các tạp chí và kỉ yếu của hội nghị khoa học phải được xuất bản kèm theo mã DOI để cho phép người dùng có thể truy cập tới các bài báo gốc đăng tải trên Internet. Thư viện số được xây dựng tại các viện, trường và cơ quan quản lý khoa học để lưu trữ các kết quả trong nghiên cứu và đào tạo. Kết quả có thể là các tài liệu, phần mềm, bộ dữ liệu được quản lý để đáp ứng các chuẩn của truy cập mở. Người dùng có thể tìm kiếm và khai thác đầy đủ nội dung điện tử nếu dữ liệu đã được cấp phép mở (tùy chọn một giấy phép phù hợp theo Creative Commons).

Dạng thông tin nội sinh thứ hai được phát triển để phục vụ công tác quản lý nghiên cứu và phát triển tại các bộ ngành, địa phương. Đây là những CSDL cung cấp các thông tin KHCN đầy đủ về nguồn nhân lực, tổ chức, các nhiệm vụ nghiên cứu và kết quả đạt được. Dữ liệu lưu trữ trong hệ thống cần được chuẩn hóa để có thể dễ dàng chia sẻ, trao đổi trong mạng lưới thông tin KHCN. Tiêu chuẩn dữ liệu được sử dụng phổ biến nhất hiện nay cho các hệ thống thông tin KHCN là CERIF [9] do tổ chức EuroCRIS chủ trì xây dựng. CERIF được khuyến cáo sử dụng cho tất cả các hệ thống thông tin nghiên cứu ở các cấp độ từ viện, trường, vùng, quốc gia, cho tới cả Liên minh Châu Âu. Tiêu chuẩn này đã thực hiện mô hình hóa toàn bộ thông tin KHCN thành các nhóm đối tượng thông tin phải quản lý gồm cá nhân, tổ chức hoạt động khoa học, dự án nghiên cứu, kết quả công bố, sản phẩm khoa học, sáng chế, tài chính,…

Ở cấp độ quốc gia, một CSDL thông tin KHCN được xây dựng trên cơ sở tích hợp dữ liệu từ tất cả các nguồn cung cấp tin nội sinh ở trong nước. CSDL quốc gia thực hiện chuẩn hóa và liên kết dữ liệu từ nhiều nguồn khác nhau để cung cấp “một cửa” tìm kiếm thông tin KHCN trong cả nước. Hệ thống này sẽ hoạt động như một kho dữ liệu tập trung theo mô hình của hệ thống OpenAIRE phục vụ phát triển nghiên cứu mở tại Châu Âu.

OAI-PMH (Open Archives Initiative Protocol for Metadata Harvesting) sẽ được lựa chọn làm giao thức tiêu chuẩn để thu thập dữ liệu thông tin KHCN đa dạng từ nhiều nguồn. Đây là tiêu chuẩn toàn cầu được áp dụng trong các ứng dụng liên quan đến quản lý lưu trữ tài liệu và thông tin tư liệu. OAI-PMH được xây dựng dựa trên nền tảng công nghệ web (API Restful). Giao thức này có tính tổng quát và độ linh hoạt cao cho phép thu thập các bộ dữ liệu theo nhiều kiểu mẫu với metadata mô tả khác nhau. Tất cả các CSDL KHCN trong nước và của quốc gia cần được nâng cấp, chuyển đổi để hỗ trợ chuẩn giao thức trao đổi dữ liệu OAI-PMH.

Chỉ số trích dẫn các công bố được xem là một thông tin quan trọng dùng để đo lường hiệu quả của các nghiên cứu hiện nay. V-CitationGate là CSDL thư mục đầu tiên tại Việt Nam đã phân tích được chỉ số trích dẫn trong cho các công bố khoa học. V-CitationGate đã kết nối thành công các ấn phẩm khoa học xuất bản trên 50 Tạp chí khoa học của Việt Nam có thông tin trích dẫn trong nước và trên thế giới. Tuy nhiên hiện nay CSDL mới chỉ tập trung vào phân tích chỉ số cho các bài báo và tạp chí trong nước. Cần phải mở rộng CSDL để có được thông tin chỉ số trích dẫn của các tác giả là người Việt có công bố khoa học ở cả trong và ngoài nước. Hệ thống các chỉ số đánh giá trong CSDL cũng cần được liên kết với các hệ thống chỉ số đánh giá thông dụng khác trên thế giới như ISI, Scopus, AltMetric,…

Để thông tin KHCN trong nước có thể hội nhập quốc tế, cần áp dụng các loại mã định danh trường tồn (PID) khi tạo lập dữ liệu. Các mã định danh này bảo đảm tính duy nhất để giúp dễ dàng liên kết các thông tin trong phân tích dữ liệu. Cụ thể các công bố khi xuất bản cần được gắn với mã định danh DOI; lưu trữ các tài nguyên số có thể gắn với các mã định danh Handle, ARK; các cá nhân hoạt động KHCN cần được khuyến khích tham gia vào hệ thống đăng kí định danh quốc tế như ORCID.

Với sự phát triển của Internet, các nền tảng dựa trên nguồn lực đám đông đang tạo ra một động lực mới rất hiệu quả trong phát triển thông tin KHCN. Mô hình này sử dụng các đóng góp của chính người dùng để xây dựng nội dung thông tin. Hệ thống điển hình đầu tiên ra đời theo mô hình này chính là trang thông tin Wikipedia. Trong lĩnh vực thông tin KHCN, các hệ thống hoạt động dựa trên đám đông có thể kể đến như: arXiv.org cho phép người dùng lưu trữ, chia sẻ các báo cáo hoặc bài báo trước khi xuất bản; academia.edu là một mạng xã hội cho phép các cán bộ nghiên cứu và phát triển chia sẻ và theo dõi kết quả nghiên cứu của các cá nhân.

Chuyển đổi số thông tin KHCN ở Việt Nam cũng cần ưu tiên phát triển một nền tảng tương tự như arXiv.org hoặc academia.edu. Đây là nơi người dùng tự do chia sẻ các kết quả, công trình nghiên cứu của cá nhân. Nó là mô hình giúp tập hợp tri thức từ cộng đồng một cách nhanh, đầy đủ và hiệu quả nhất so với tất cả các mô hình khác. Tuy nhiên mô hình này chỉ đảm bảo tính bền vững khi nó vận hành dựa trên một nền tảng kinh doanh mang lại được lợi ích cho người tham gia đóng góp về mặt danh tiếng, cơ hội phát triển nghề nghiệp hoặc thậm chí là tài chính thu được. Với một kho tư liệu khổng lồ do người dùng đóng góp (bao gồm cả các tổ chức), chúng ta có thể dễ dàng xây dựng được nhiều tiện ích hỗ trợ người dùng dựa trên các công nghệ tiên tiến như AI, học máy. Ví dụ hệ thống có thể phát hiện một cách nhanh chóng về khả năng “đạo văn” của một tài liệu tiếng Việt bất kì.

Kết luận

Chuyển đổi số ngành thông tin KHCN sẽ dựa trên việc phát triển các nền tảng công nghệ. Quá trình chuyển đổi số của ngành được gắn kết với sự phát triển chung của quốc gia về chính phủ điện tử. Nhà nước không nên đầu tư vào xây dựng các ứng dụng mà tập trung vào việc tạo lập hạ tầng, nền tảng số trong đó có nền tảng dịch vụ chia sẻ và trao đổi dữ liệu về thông tin KHCN theo chuẩn mực quốc tế; nền tảng quản lý CSDL quốc gia thống nhất, tập trung được các nguồn tin trong cả nước. Nhà nước cần tạo cơ chế để khuyến khích xã hội hóa phát triển các ứng dụng trong lĩnh vực thông tin KHCN như thư viện điện tử, thư viện số, mạng chia sẻ dữ liệu mở, sàn giao dịch kết nối cung cầu,….

Xu thế chung trong hội nhập quốc tế hiện nay là theo đuổi các chính sách về khoa học mở, dữ liệu mở và truy cập mở. Đầu tư xây dựng các hệ thống công nghệ cần tránh theo hướng tự may đo (adhoc) mà cần dựa trên các tiêu chuẩn phổ quát trên thế giới trong lĩnh vực thông tin KHCN. Trong quá trình chuyển đổi số, các nguyên tắc FAIR (Findable — Accessible — Interoperable — Reusable) luôn cần được áp dụng cho thiết kế dữ liệu của các hệ thống thông tin KHCN.